Đầu mùa hạ, những cơn mưa rào bất chợt kéo đến khiến thời tiết lành lạnh cũng là khi mắm ruốc biển được người dân xứ Nghệ yêu thích nhất.
Không cứ người dân nơi đây, nếu được nếm thử một miếng mắm ruốc, cảm nhận cái ngọt từ thịt ruốc, cái mặn mòi của biển cùng bát cơm trắng nóng trong những ngày mưa dầm, chắc hẳn du khách dù khó tính trong chuyện ăn uống cũng phải tấm tắc khen ngon.
Gọi là ruốc nhưng mắm ruốc xứ Nghệ không được làm từ thịt lợn như người Bắc vẫn biết. Ruốc ở đây là tên một loài tép biển, thân nhỏ hơn tép đồng. Về vùng biển miền Trung du khách dễ dàng cảm nhận thấy mùi vị của ruốc biển ở khắp nơi. Bởi lẽ hầu hết nhà nào cũng có dự trữ thùng mắm to trong nhà làm thức ăn dự trữ ăn cả năm.
Là món ăn dân dã song làm mắm ruốc cũng đòi hỏi sự cầy kỳ và kỹ lướng không thua kém những món ăn phức tạp khác. Phải chọn con ruốc tươi, tuyệt đối không dùng nước lã để rửa vì ruốc sẽ bị thối rữa. Ruốc sau khi rửa phải được xốc đều trên chảo với muối hạt. Mắm ngon không những phải có mùi thơm nhẹ, vị vừa phải, không quá mặn, mà còn phải có màu đỏ au hấp dẫn.
Làm mắm thì phức tạp nhưng thưởng thức thì lại cực kỳ đơn giản. Mắm ruốc được sử dụng như một gia vị không thể thiếu trong bữa ăn của nhiều gia đình Nghệ An, có thể dùng làm nước chấm, ăn kèm với bún hay chế biến nhiều món ăn khác như: nêm canh, cháo ruốc, mắm ruốc rim hay mắm ruốc kho thịt…
Tuy vậy theo những người dân chính tay làm ra loại “đặc sản” này thì mắm ruốc ngon nhất là dùng ăn thô với khế chua và bún, vừa ngon mà lại thấy hết được mùi vị nguyên sơ của mắm. Thêm lát ớt tươi làm món ăn vừa chua vừa cay đem lại cảm giác rất lạ, kích thích mọi giác quan.
Mùa con ruốc kéo dài từ tháng giêng đến tháng tư âm lịch hàng năm. Vào mùa ruốc ngư dân nhà nào nhà nấy tấp nập bận rộn huy động từ già trẻ, trai gái đi kéo ruốc. Con ruốc mang về nhặt rửa sạch sẽ đem phơi khô làm mắm hoặc bán cho các nhà máy đóng hộp xuất khẩu. Tuy “rất sẵn”, giá lại rẻ xong mắm ruốc lại là món ăn yêu thích của rất nhiều người. Nếu là người lạ lần đầu tiếp xúc với thứ mắm này chắc hẳn sẽ thấy khó chịu như những ai không ăn được mắm tôm mà phải ngửi mùi thì với những người con vùng biển Nghệ An này thứ mùi đó lại gắn bó, rất đỗi thân thương
Cua biển có thể chế biến được rất nhiều món ngon, đơn cử có chả giò cua, cháo cua, cua hấp, cua xào miến, rang muối…Cua đem rang me thì tuyệt hảo nhờ sự phối ngẫu tinh tế giữa vị chua thanh của me và độ ngọt béo từ thịt cua. Cua cái thường ngon hơn cua đực, muốn biết cua có gạch son hay không, người mua chịu khó lật yếm cua lên để nhìn vào trong, nếu có màu son thì đích thị cua ngon, gạch béo.
Cua biển chỉ ngon khi còn tươi sống, mua về nên chế biến ngay vì khi cua chết, chất đạm bên trong sẽ nhanh chóng bị phân hủy, phát tiết độc tố. Sau khi làm sạch cua, bạn hãy nhẹ nhàng tách mai cua ra khỏi thân, cắt thân cua làm 2 hay thành bốn phần tùy thích, tiếp tục cho cua và mai vào chiên trên chảo mỡ nóng già cho đến khi cua đổi màu đỏ rực mời gọi.
Me vắt ngâm vào nước sôi 15-20 phút cho thịt me hòa tan hoàn toàn vào nước, đều tay bóp nhuyễn rồi lọc bỏ hạt me chỉ chừa lại phần nước me tinh khiết, chua thanh. Trộn nước me với đường cho đến khi vị me trở nên dìu dịu, ngọt chua vừa vặn. Bắc chảo lên bếp phi tỏi cho thơm và vàng ruộm, đổ nước me vào, chế thêm ít bột đao hay bột sắn dây để nước me ngả nâu sánh sền sệt. Khi nước me lăn tăn sôi thì cho cua đã chiên vàng vào hòa trộn, thấm đẫm trong nước me sóng sánh. Thân cua vàng ươm thêm nước me nâu quyến rũ bám quanh sẽ làm "điêu đứng" tất cả khách sành ăn khó tính nhất.
Bày cua ra đĩa, úp mai cua lên trên cho hình dáng nguyên vẹn như ban đầu, rưới nước sốt me còn lại lên thân cua, rắc rau răm, điểm thêm vài lát ớt xắt, thêm chút tiêu giã nhuyễn sẽ giúp đĩa cua cực kỳ "thăng hoa" với đủ các sắc màu hài hòa. Ăn cua rang me phải cảm nhận được "vị ngon trên từng ngón tay" mới đúng điệu.
Đặc sản xứ Nghệ có rất nhiều thứ như: nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, bánh mướt Diễn Châu, phịa đắng Con Cuông, cá mát Sông Giăng... Trong đó có món 'lươn' luôn là một thực phẩm mà người dân xứ Nghệ không thể không nhắc đến, bởi xứ Nghệ là xứ sở của lươn.

Lươn là loại thủy sản nước ngọt, thân tròn, dài như rắn, mắt nhỏ ti hí, da trơn có nhớt, màu nâu vàng thường sống chui rúc trong bùn. Lươn còn được gọi tên là Thiên ngư, Trường ngư, là 'sâm động vật dưới nước'. Câu bắt lươn phải theo mùa và theo vùng. Người dân xứ Nghệ thường đánh bắt lươn bằng ống Trúm chụp xuống những bờ ruộng có lươn, lươn chui vào và không chui ra được. Loài lươn vốn ở bùn nhưng ghét nước đục, vì vậy người bắt lươn thường quậy nước cho đục để lươn chui ra khỏi hang tìm chỗ nước trong. Loại lươn sống trong môi trường tự nhiên này thịt thơm, vị ngọt, có độ săn dai khi chế biến. Món lươn xứ Nghệ nổi tiếng cũng nhờ phần lớn là lươn tự nhiên trong vùng đất sét đặc biệt.
Để chế biến một món ăn ngon, khâu sơ chế lươn rất quan trọng. Người chế biến loại bỏ chất nhớt bằng nhiều kinh nghiệm khác nhau như dùng vôi bột, tro, dấm, nước sôi hoặc dùng một số lá có độ nhám như lá tre để tuốt các chất nhờn trên da lươn. Tùy theo yêu cầu của món nấu mà có thể để nguyên con, rút xương hay cắt khúc. Khâu rút xương cũng có 2 phương pháp. Hoặc cắt khứa từ cổ rồi lạng dần xuống. Hoặc đặt thân lươn lên thớt, dùng vồ gỗ dần lên, rồi lộn ngược bên trong, lạng bỏ phần xương.
Xứ Nghệ nổi tiếng với các món lươn om như: lươn om chuối, lươn om lá ngải cứu, lươn om rau ngổ, lươn om lá lốt, lươn om nồi đất... Loại gia vị cho món này ngoài mắm muối thì không thể thiếu nghệ, mẻ, mắm tôm, rau răm, hạt tiêu... Gia vị là một thành phần không thể thiếu trong món lươn, nó vừa giúp tạo vị, tạo mùi, tạo hương. Sự kết hợp giữa các loại gia vị tạo nên một bản sắc riêng cho ẩm thực xứ Nghệ.
Lươn được chế biến ở dạng nướng, từ nướng truyền thống trên than hoa cho đến nướng bọc mỡ chài, bọc lá dứa... đã tạo cho món ăn thêm hương, thêm vị. Những miếng thăn lươn được dàn mỏng, tẩm ướp nước cốt nghệ, ớt, sả... bên trong cuộn thêm sợi mỡ nhỏ, được đặt nướng trên than hoa. Mùi lươn nướng chín thơm lừng lan tỏa khắp cả phòng.
Ngoài ra, súp lươn, cháo lươn là món ăn không thể thiếu trong thực đơn về lươn ở xứ Nghệ. Bát súp có lượng nước trong, ngọt, thơm, những miếng thịt lươn chín còn nguyên dạng, không nhũn nát, thấm vị và dậy lên hương đặc trưng của lươn quê. Hành lá, rau răm còn nguyên sắc xanh tươi thắm được cắt nhỏ, thả bồng bềnh trên mặt nước nóng hổi điểm nhẹ những giọt ớt đỏ. Hơi bay lên kéo theo mùi hương thơm, cay, nồng khiến chưa ăn miệng đã thấy thèm.
Theo sự phát triển của xã hội, thị hiếu của người ăn… nhiều món ăn đa dạng từ lươn được người xứ Nghệ tiếp thu, ứng dụng và thêm những ý tưởng sáng tạo trong sự phối hợp lẫn hình thức dọn bày để món ăn được nâng thành nghệ thuật ẩm thực.